Vi rút Nipah gây bệnh truyền nhiễm với tỷ lệ tử vong cao từ 45% – 70%. Hiện nay chưa có vắc-xin và thuốc đặc hiệu điều trị bệnh. Nhiều người sống sót để lại di chứng thần kinh lâu dài.

 

i rút Nipah là gì?

Vi rút Nipah (NiV) là một tác nhân gây bệnh lây truyền từ động vật sang người, gây ra mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng toàn cầu. Vi rút này chủ yếu lây lan qua loài dơi ăn quả, đặc biệt là các loài thuộc chi Pteropus, và cũng có thể truyền sang người thông qua tiếp xúc trực tiếp với động vật bị nhiễm bệnh hoặc qua việc tiêu thụ thực phẩm bị nhiễm bẩn.

Vi rút này được phát hiện lần đầu tiên tại Malaysia vào năm 1998 và từ đó đã gây ra nhiều đợt bùng phát tại các nước Nam Á và Đông Nam Á như Malaysia, Singapore, Bangladesh, Ấn Độ và Philippines, trong đó tỷ lệ mắc bệnh cao nhất được báo cáo tại Bangladesh và Ấn Độ.

Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 12/2025 đến hết tháng 01/2026, Ấn Độ chỉ ghi nhận 2 ca nhiễm vi rút Nipah ở bang West Bengal, chưa có bằng chứng lây lan rộng trong cộng đồng hay quốc tế. Nguy cơ bùng phát dịch trên diện rộng được WHO đánh giá là thấp, song các quốc gia vẫn tăng cường giám sát do đây là bệnh nguy hiểm, tỷ lệ tử vong cao và chưa có vắc-xin phòng bệnh. Tính đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc vi rút Nipah nào

.

Nguồn bệnh và đường lây

Vật chủ tự nhiên của vi rút Nipah là dơi. Vi rút được phát tán ra môi trường qua dịch tiết của dơi như nước bọt, nước tiểu… Từ đó, vi rút có thể lây sang các động vật khác như lợn, ngựa, bao gồm cả người khi tiếp xúc với các động vật và các dịch tiết có chứa vi rút. Vi rút xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc (niêm mạc miệng mũi, niêm mạch đường tiêu hóa, niêm mạc đường hô hấp) hoặc qua da bị tổn thương.

Triệu chứng của bệnh

Thời gian ủ bệnh thường từ 3 ngày đến 14 ngày. Đa số bệnh khởi phát đột ngột với các triệu chứng như sốt cao, mệt mỏi và các triệu chứng thần kinh như đau đầu, buồn nôn, nôn, rối loạn ý thức; có thể có triệu chứng hô hấp như ho, khó thở, đau họng…. Bệnh có thể tiến triển nặng thành viêm não, viêm phổi nặng, suy hô hấp dẫn tới tử vong.

Tỉ lệ tử vong do vi rút Nipah dao động từ 45 – 70%, đây là một bệnh có tỉ lệ tử vong rất cao, cao hơn rất nhiều so với Covid-19. Nhiều bệnh nhân sống sót để lại các di chứng thần kinh lâu dài (ghi nhận tới 20%).

Chẩn đoán, điều trị bệnh

Bệnh do vi rút Nipah được chẩn đoán dựa vào yếu tố dịch tễ (người đi về từ vùng dịch, tiếp xúc với nguồn bệnh trong vòng 2 tuần trước đó) và có biểu hiện các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm xác định mầm bệnh (thường sử dụng PCR phát hiện vi rút Nipah trong các mẫu dịch cơ thể như dịch mũi họng, máu, nước tiểu, dịch não tủy hoặc mẫu mô…)

Hiện nay, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho vi rút Nipah. Điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng, nâng đỡ thể trạng, theo dõi và xử trí các biến chứng.

Cách phòng bệnh

Do chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, phòng ngừa và ngăn chặn lây nhiễm là biện pháp hiệu quả nhất. Người dân cần: Thực hiện ăn chín, uống sôi; Tránh tiếp xúc trực tiếp với động vật hoặc dịch tiết của động vật; Không sử dụng thực phẩm có nguy cơ bị nhiễm nước tiểu hoặc dịch tiết của dơi; Nhân viên y tế khi chăm sóc các ca bệnh nghi ngờ cần được trang bị đầy đủ phương tiện bảo hộ và nắm rõ đường lây truyền của vi rút Nipah

Chủ động phòng ngừa và nâng cao nhận thức sẽ giúp bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng trước mầm bệnh nguy hiểm này

 

Bs Phạm Mạnh Tuấn – Khoa Hồi sức Truyền nhiễm,

Viện LSCBTN, Bệnh viện TWQĐ 108